Bình minh ngày
11.5.2012, khi đoàn nhà báo khách mời của Hãng Hàng không Quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ
(Turkish Airlines) và Công ty Du lịch FIDITOUR, đặt những bước chân đầu tiên
đến Istanbul, điểm du lịch số một của Thổ Nhĩ Kỳ, thì “Lale Devra” (thời hưng
thịnh của văn hóa nghệ thuật, kiến trúc và lối sống của đế chế Ottoman) đã qua
từ lâu lắm rồi. Và thời điểm lale nở rộ đầu xuân cũng đã kết thúc khoảng một
tuần trước đó. Lale là gì ? Thưa lale chính là tulip, là hoa uất kim hương.
“Nhưng các bạn đừng buồn, đừng thất vọng vì không được ngắm lale”, ông Akin
Carkci, Giám đốc Turkish Airlines tại Việt Nam nói. “Đất nước chúng tôi còn
rất nhiều thứ hấp dẫn khác chắc chắn sẽ khiến các bạn có một hành trình thú vị,
nhớ đời”.
Hải hành vào lịch
sử Sừng vàng
Quả thực, như ông Carcki
đã giới thiệu, nhờ có rất nhiều di tích của các nền văn minh Hy Lạp, La Mã và
Ottoman lại được cộng thêm những ảnh hưởng văn minh châu Á xuyên qua Con đường
tơ lụa và những địa chỉ hành hương thánh thiêng đối với các tín hữu Kytô giáo
nên Thổ Nhĩ Kỳ luôn là điểm đến du lịch rất hấp dẫn. Năm 2011 qua, Thổ Nhĩ Kỳ
đã thu hút được 31 triệu du khách quốc tế, tăng hơn 9% so với năm 2010 (số liệu
của Tổ chức Du lịch Thế giới thuộc Liên Hiệp Quốc). Có nhiều khách ắt có nhiều
ngoại tệ được chuyển vào, cụ thể là hơn 23 tỷ đôla Mỹ.
Rừng cột chống đỡ
hầm nước ngầm Basilica Cistern
Và điểm đến số một
của đất nước này chính là Istanbul, một thành phố
rộng lớn, đông dân, trù phú trước đây gọi là Constantinople,
đặt theo tên hoàng đế La Mã Constantin Cả. Istanbul nằm bên bờ Sừng vàng, nhánh
tự nhiên dài 7,5km của eo biển Bosphorus. Đây là điểm nối kết
hai lục địa, châu Âu ở bên hướng tây và
châu Á ở bên hướng đông. Có hơn 48% tổng lượng khách quốc tế đi du lịch ThổNhĩ Kỳ đến với Istanbul cho nên, ngay
trong buổi sáng ngày đầu tiên ở ThổNhĩ Kỳ, ông Ammet Bingen, một
hướng dẫn viên với hơn 20 năm kinh nghiệm, cho đoàn khách Việt xuống du thuyền
đi một vòng trên biển Sừng vàng. Hàng mấy ngàn năm trước, từ nhánh biển này
những thương thuyền Hy Lạp, La Mã, Byzantin (tên gọi đế chế La Mã phương Đông),
Ottoman đã tìm vào cảng Istanbul, góp phần làm cho thành phố phát triển trù
phú.
Du thuyền đưa
chúng tôi đi qua những địa danh du lịch nổi tiếng thế giới, từ Hagia Sophia
(một thánh đường Kytô giáo sau chuyển
thành giáo đường Hồi giáo và ngày nay là bảo tàng) qua cung điện Topkapi, nơi
sinh sống và làm việc của nhiều sultan Ottoman đến Mosque xanh, nhà thờ Hồi
giáo thánh thiêng và to lớn nhất Istanbul. Rồi còn là hai dinh thự tuyệt đẹp
Dolmabache (xây dựng năm 1856 để thay thế cho Topkapi) và Beylerbeyi, cung điện
mùa hè, hoàn tất năm 1865.
Nhưng một kiến
trúc xưa khiến mọi du khách bị choáng vì sự đồ sộ của nó chính là pháo đài
Rumeli ngự trị trên sườn đồi cao, một “tác phẩm kiến trúc” của sultan Mehmed II
vào năm 1451, khi quân lính của ông đang bao vây Constantinople.
Những tường thành dài với ba tháp canh
cao to và 13 tháp canh nhỏ đã được xây dựng hoàn tất chỉ sau 4 tháng và 16 ngày.
Năm 1453, vị vua mới 21 tuổi mà đã mang biệt danh “Fatih” (Kẻ chinh phục) này chiếm
được Constantinople và đổi tên thành Istanbul,
thủ đô của đế chế Ottoman (kéo dài từ 1299 đến 1922). Ở gần đó, trong thời hiện
đại đã có cây cầu dây văng khổng lồ, tương xứng, mang tên Cầu Fatih Sultan
Mehmed, bắc ngang eo biển Bosphorus.
Phố cổ hoàng gia
Trở lên bờ, theo
chân hướng dẫn viên Ammet, đoàn chúng tôi bắt đầu hành trình đi bộ khám phá
toàn khu phố cổ nhất mà cũng hoành tráng và nổi tiếng nhất của Istanbul ở phần đất phía
bên châu Âu. Ngày nay, khu này gọi là Quận Sultan Ahmed, đặt theo tên vua Ahmed
I, trị vì từ 1603 đến 1617, là sultan thứ 14 của Đế chế Ottoman. Chính ông là
người cho xây dựng Blue Mosque (tên chính thức là nhà thờ Hồi giáo Sultan Ahmed,
khởi công năm 1609, hoàn tất năm 1617), được xem như là tuyệt tác của kiểu kiến
trúc Hồi giáo. Nó có đến sáu tháp cao nhọn (minaret). Lăng mộ của ông, sát cạnh
ngôi giáo đường nguy nga này, nay là một điểm tham quan của rất nhiều du khách.
Và cả một quảng trường rộng lớn phía trước cũng được đặt theo tên vị vua này,
Sultanahmed.
Pháo
đài Rumeli
Tập trung quanh nơi
đây - toàn khu phố cổ hoàng gia này đã được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới
vào năm 1985 - là những địa chỉ du lịch,
tham quan hàng đầu của Istanbul.
Đó không chỉ là Blue Mosque mà còn là cung điện Topkapi, nơi được xem là trung
tâm quyền lực của đế chế Ottoman trong hơn 400 năm. Cung điện được khởi công
xây dựng năm 1459 rồi liên tục được mở rộng, phát triển cho đến khi toàn phức
hợp chiếm diện tích lên hến hơn 80 héc-ta.
Rồi còn là Hippodrome,
một sân đua ngựa có từ thời đế chế La Mã phương Đông. Và không thể bỏ quên Hagia
Sofia, xây dựng năm 532, hoàn tất năm 537, là dấu chứng đặc trưng của hai nền
văn minh Đế chế La Mã Phương Đông Byzantin và đế chế Ottoman lẫn của hai tôn
giáo lớn là Thiên Chúa giáo và Hồi giáo. Du khách rất dễ dàng nhận biết hình
ảnh Đức bà Maria bồng Chúa Hài đồng Ye6su được khắc trạm trên mái vòm và ngay
phía dười là cầu thang với chóp nhọn, một địa điểm dành cho giáo sĩ Hồi giáo
hướng dẫn tín hữu cầu kinh với đấng Allah. Nếu như Blue Mosque ngắm rất đẹp ở phía
ngoài thì Hagia Sofia lại rất quyến rũ khi quan sát ở bên trong. Riêng mái vòm
của không gian rộng lớn này khiến du khách ngỡ ngàng: cao 56 mét, đường kính 31
mét.
Cách đó chỉ hơn 150
mét là Basilica Cistern, một địa chỉ tham quan rất xứng đáng vì là kiến trúc ngầm
của người La Mã sử dụng làm hồ chứa nước vĩ đại, dài 138 mét, ngang gần 65 mét
(khoảng 9800 mét vuông, có thể chứa đựng đến 80.000 m3 nước sạch). Nó được xây
dựng vào thế kỷ 6 sau Công nguyên, dưới thời hoàng đế Justinian của Đế chế
Byzantin. Đây là hầm chứa nước lớn nhất trong số hàng trăm “xì-tẹc” ngầm ở Constantinople ngày xưa. Chống đỡ trần hầm là một rừng
cột đá hoa cương – cụ thể là 336 cột cao 9 mét, xếp thứ tự thành 12 hàng với mỗi hàng là 28 cột.
Dấu ấn “lale”
Có rất nhiều đền đài,
vật phẩm nghệ thuật được kiến trúc theo hình búp hoa uất kim hương. Đúng rồi,
đã có lúc trong thời xưa, tulip được xem là biểu trưng của sự phong phú tài sản
vật chất lẫn sự khá giả về thẩm mỹ. Những thương nhân bước đi trên Con đường tơ
lụa năm xưa đã bị sắc đẹp của những đóa hoa dại này chinh phục và họ đã mang
chúng từ Trung Á và vùng đất phía đông đất nước Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay đến vùng
Anatolia vào thế kỷ 11 sau Công nguyên để rồi từ đó tulip tỏa lan sang đến tận
châu Âu.
Dấu
chứng Kytô giáo và Hồi giáo bên trong Sofia
Hagia
Hoa tulip màu đỏ với
những cánh hoa nhọn thường được dùng trang điểm cho các vườn hoa trong dinh thự của các sultan của đế chế Ottoman.
Loại hoa đặc biệt này là motif quen mắt nhất trong rất nhiều kiến trúc, từ
những tấm ngói lợp nhà qua đến những viên gạch lát tường bên trong những giáo
đường Hồi giáo. Ngày nay tulip vẫn còn được xem là quốc hoa Thổ, được thể hiện
ngay trên thân những cánh chim sắt của Turkish Airlines và là logo chính thức
của Turkish Tourism, cơ quan phụ trách du lịch quốc gia.
Thời hiện đại, “Lale”
vẫn là tên gọi phổ biến nhất của phái nữ nước này. Và tulip hiện diện điểm tô
trên những cái ly nhỏ bằng thủy tinh trong mà người Thổ dùng để uống trà (chay)
rất nhiều lần mỗi ngày; trên những tô, chén, đĩa sành sứ được bày bán trong
ngôi chợ khổng lồ Grand Bazaar với hơn 4000 cửa hàng ở Istanbul và trên những
tấm thảm dày đã được nâng niu dệt tay thật công phu trong suốt một thời gian
dài bởi các thiếu nữ ẩn mình bên trong nhà riêng ở vùng nông thôn. Món tiền lớn
thu được từ việc bán thảm sẽ là khoản tiền làm vốn cho các cô khi lập gia đình.
Không được ngắm tulip
cũng chẳng sao vì trong suốt hành trình dài ngày dọc ngang đất nước nằm vắt vẻo
giữa châu Á và châu Âu này, chúng tôi đã ngắm được vô số những loài hoa đẹp. Từ
rừng hoa cải dại màu đỏ, màu trắng, màu vàng phủ kín những cánh đồng rộng lớn đang
chờ đến ngày được chăm bón, nhận những hạt giống lúa mì mới. Qua vô vàn những
gốc hồng cao to, cứng cáp đang khoe những bông to như cái tô, cái đĩa ở làn
ranh rộng ngăn đôi những con đường dài nối liền thành phố này với thành phố kia,
tỉnh này với tỉnh nọ.
Bài và ảnh P.Nguyễn
Dũng
Chia sẻ
Các tin khác